MỤC LỤC
THÔNG TIN BẢN ÁN HÌNH SỰ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Loại vụ việc: Vụ án hình sự với tội danh “Cố ý gây thương tích”.
Cấp xét xử: Sơ thẩm.
Công ty Luật TNHH Luật Hùng Bách – Chi nhánh Hồ Chí Minh tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng Vũ Hữu Q – là bị hại trong vụ án.
CHI TIẾT BẢN ÁN
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST–HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST–HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 đối với:
Các bị cáo
- Phạm Xuân T, sinh năm: 1988 tại tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: phường B, thành phố H, tỉnh A. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam. Trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Thuyền trưởng. Cha: Phạm Xuân T1; mẹ: Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị T2. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt từ ngày 21/3/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Long Đất. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư H – Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
- Danh M, sinh năm: 1984, tại tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: phường P, thành phố H, tỉnh A. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: không; giới tính: nam. Trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: lao động tự do. Cha: Danh N (đã chết); mẹ: Danh R; vợ: Nguyễn Thị Kim H; con: bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt từ ngày 21/3/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Long Đất.
Bị hại
Ông Vũ Hữu Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố 5, phường H, tỉnh A. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Lê Vĩnh Ngọc Bảo – Công ty Luật TNHH Luật Hùng Bách – Chi nhánh Hồ Chí Minh; địa chỉ: 33 đường số 4, Phường 7, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người làm chúng
– Ông Lê Đình H, sinh năm 1989; địa chỉ: phường Đ, Thành phố H, tỉnh A. Vắng mặt.
– Ông Lê Minh N, sinh năm 1977; địa chỉ: phường T, Thị xã H, tỉnh A. Vắng mặt.
– Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1988; địa chỉ: phường T, thành phố H, tỉnh A. Vắng mặt.
– Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện H, tỉnh A. Vắng mặt.
– Ông Võ Phi C, sinh năm 1986; địa chỉ: xã X, Thành phố H. Có mặt.
– Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1987; địa chỉ: phường B, thành phố H, tỉnh A. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN
Tóm tắt nội dung vụ án:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước với ông Vũ Hữu Q nên khoảng 13 giờ ngày 03/8/2024. Khi đang uống rượu cùng các thuyền viên trên tàu cá mang số hiệu “KG.61788.xx”. Phạm Xuân T xem định vị phát hiện tàu cá mang số hiệu “KG.95970.xx” của ông Q đang neo đậu gần tàu của mình tại vùng biển thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) nên điều khiển tàu cập sát mạn tàu ông Q.
Sau đó, T mang theo 01 gậy dũ ba khúc bằng kim loại giấu trong người. Đi sang tàu ông Q để nói chuyện. Tại đây, T và ông Q xảy ra mâu thuẫn xô xát. T liền dùng gậy dũ đánh 01 cái trúng vào vùng bắp vai phải của ông Q. Thấy T đánh nhau, Nguyễn Văn H (thuyền viên tàu của T) cầm 02 con dao (01 dao bầu, 01 dao Thái Lan) sang tàu ông Q, dùng dao chém trúng vào vùng vai trái của ông Q gây thương tích. Khi Q đưa tay lên đỡ, H tiếp tục chém nhiều nhát gây thương tích ở bàn phải. Bị chém, ông Q dùng tay đẩy T và H về phía sau làm H rơi xuống biển. Lúc này, T và ông Q tiếp tục giằng co, xô xát làm T bị ngã xuống sàn tàu. Thấy vậy, Danh M (thuyền viên tàu của T) cầm cây xẻng sang tàu ông Q, đánh 01 cái trúng vùng bắp tay trái của ông Q. Sau đó, H trèo lên lại tàu, dùng dao kề vào cổ ông Q gây thương tích ở vùng cằm. Khi ông Q nói “Tao thua rồi”, T can ngăn và cùng H, Mi trở về tàu. Trước khi rời đi, T còn dùng tay tát nhiều cái vào mặt ông Q.
Sau đó, T, M đã vứt, làm rơi gậy dũ và cây xẻng xuống biển. Còn ông Q được các thuyền viên trên tàu đưa vào bờ điều trị thương tích và đến Cơ quan Công an trình báo vụ việc.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Xuân T, Danh M đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Đối với Nguyễn Văn H đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ ở đâu, Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên đã ban hành Quyết định truy tìm người.
Kết luận giám định thương tích:
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 369/KLTTCT- PYBRVT ngày 23/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) kết luận:
- Kết quả khám giám định: 01 sẹo nhỏ vùng mặt; 01 sẹo hỗn hợp vai trái; 01 nhỏ cẳng tay phải; 01 sẹo hỗn hợp ngón IV bàn tay phải; 01 sẹo nhỏ ngón V bàn tay phải.
Kết quả cận lâm sàng: Gãy đốt 2 ngón IV bàn tay phải.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT–BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Hữu Q tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với từng vết thương:
+ Thương tích 1: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
+ Thương tích 2: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
+ Thương tích 3: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
+ Thương tích 4: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%; Thương tích 5: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
– Vật gây thương tích và chiều hướng tác động:
+ Thương tích 1: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ trái sang phải.
+ Thương tích 2, 3, 4, 5: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng: Thương tích 2: Chiều hướng từ trên xuống dưới; Thương tích 3: Chiều hướng từ trái sang phải; Thương tích 4 và 5: Chiều hướng từ sau ra trước.
* Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 170/KLTTCT–PYBRVT ngày 02/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (cũ) kết luận:
Các kết quả chính:
– Kết quả khám giám định: 01 sẹo nhỏ vùng mặt; 01 sẹo hỗn hợp vai trái; 01 sẹo nhỏ cẳng tay phải; 01 sẹo hỗn hợp ngón IV bàn tay phải kèm cứng khớp liên đốt; 01 sẹo nhỏ ngón V bàn tay phải kèm cứng khớp liên đốt.
– Kết quả cận lâm sàng: Gãy cũ chỏm đốt gần ngón IV tay phải.
Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT–BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Hữu Q tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Riêng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với thương tích ở bàn tay phải hiện tại là 07% (Bút lục số: 119 – 124).
Cáo trạng số 20/CT–VKSKV13 ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Phạm Xuân T, Danh M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
DIỄN BIẾN TẠI PHIÊN TÒA:
Ý kiến của Viện kiểm sát:
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Phạm Xuân T, Danh M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Danh M từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 9 tháng tù.
Hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp: Không
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 con dao, loại dao Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại, đã bị gỉ sét, dài 21 cm; 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán dao và lưỡi dao đã gỉ sét (của Phạm Xuân T giao nộp).
Các bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo hoàn toàn đúng người đúng tội không có ý kiến tranh luận.
Bị hại Vũ Hữu Q khai: ngoài H, T, M thì còn có Nguyễn Văn L dùng dao bầu chém vào bàn tay của bị hại gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với thương tích ở bàn tay phải hiện tại là 07%.
Người làm chứng là Nguyễn Văn L, Võ Phi C trình bày: Quá trình T, M, H gây thương tích cho ông Q thì Nguyễn Văn L không có mặt trên ghe nơi ông Q bị các đối tượng T, M, H đánh.
Ý kiến của Luật sư
Luật sư Lê Vĩnh Ngọc Bảo – Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Vũ Hữu Q phát biểu ý kiến:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sau đối với các bị cáo:
Phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự vì chỉ vì lý do nhỏ nhặt mà phía Phạm Xuân T đã tấn công bị hại; Danh M thì không có mâu thuẫn nhưng lại tấn công bị hại.
Dùng thủ đoạn tàn ác để phạm tội theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự vì các bị cáo đều sử dụng các hung khí nguy hiểm, có tính sát thương cao để tấn công bị hại, trong đó Phạm Xuân T và Nguyễn Văn H đều đánh, chém từ trên xuống, đích của các lần tấn công đều là vùng đầu nạn nhân, điều này cho thấy các bị cáo ra tay rất tàn nhẫn.
Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự vì Phạm Xuân T có liên tiếp loạt các hành động sau tấn công đối với bị hại, sau khi bị hại đã bị chém nhiều nhát, chảy máu nhiều và bị Nguyễn Văn H dùng dao Thái Lan kề vào cổ khống chế, cắt gây thương tích ở cằm trái của bị hại, thì Phạm Xuân T cũng không dừng lại mà tiếp tục tát bị hại 3 cái với mục đích sỉ nhục. Như vậy cho thấy chuỗi hành động của Phạm Xuân T với ý thức là cố ý gây thương tích tới cùng.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư của bị cáo nêu ra là chưa phù hợp. Cụ thể:
Bị cáo và gia đình chưa bồi thường, bị hại không nhận bồi thường nên việc luật sư của bị cáo T đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không phù hợp.
Viện kiểm sát và Luật sư của bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải là không phù hợp vì lời khai của các bị cáo có nhiều điểm mâu thuẫn, có dấu hiệu che dấu tội phạm: Trong lời khai Danh M, Phạm Xuân T, Nguyễn Văn L, Võ Phi C đều xác định có đối tượng K cùng tham gia vụ việc tuy nhiên các bị cáo đã không khai đúng sự thật đối với vai trò của K trong vụ án, vì vậy lời khai của các bị cáo không thành khẩn. Đồng thời từ các lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng thấy cần phải làm rõ vai trò của đối tượng K trong vụ án, quá trình điều tra, truy tố đã có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Vụ việc xảy ra trên các ghe nhưng phía Cơ quan công an lại xác minh thông tin về đối tượng K tại Công an xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh là chưa phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 6 Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung.
Viện kiểm sát đối đáp:
Đối với ý kiến của luật sư bảo vệ của bị hại:
Bị cáo bị truy tố về hành vi cố ý gây thương tích với tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm, do đó việc luật sư cho rằng cần áp dụng tình tiết dùng thủ đoạn tàn ác theo điểm m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là không phù hợp.
Bị cáo Thanh có mâu thuẫn từ trước với bị hại Quang, bị cáo mới tìm bị hại Quang nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Quá trình nói chuyện, hai bên có giằng co xô xát, bị cáo mới dùng hung khí để gây thương tích cho bị hại do đó luật sư đề nghị áp dụng tình tiết theo phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là không phù hợp.
Hành vi bị cáo T tát vào mặt bị hại không phải là phần nối dài của chuỗi hành vi dùng hung khí gây thương tích với bị hại mà là một hành vi thể hiện sự coi thường của bị cáo đối với bị hại vì cho rằng bị hại đã vu khống bị cáo sử dụng ma tuý đá dẫn tới việc bị cáo bị ảnh hưởng danh dự, uy tín. Do đó việc luật sư cho rằng bị cáo “phạm tội đến cùng” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là không phù hợp.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và sau khi xảy ra vụ việc, các bị cáo cũng đã đến thăm hỏi, xin lỗi bị hại, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân. Lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại tòa là nhất quán, các bị cáo xác nhận chỉ có các bị cáo và Nguyễn Văn H cùng tham gia gây thương tích cho bị hại, riêng K có cầm 01 cây gỗ nhưng không có tham gia đánh Q. Do đó, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là phù hợp.
Về hành vi của K và các đối tượng khác: Do chưa xác minh được nhân thân lai lịch của K và các đối tượng khác trong vụ án nên cơ quan điều tra đã có quyết định tách vụ án để điều tra xác minh hành vi của H, K và các đối tượng khác. Do đó, việc luật sư yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bo sung là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; Bị cáo M không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định được sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; các chứng cứ được thu thập đều đảm bảo tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án theo quy định tại các Điều 86, 87, 88, 89 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về việc vắng mặt của người làm chứng: Tại phiên Toà, người làm chứng là các ông Lê Đình H; Lê Minh N; Nguyễn Văn S; Nguyễn Văn B vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh
Hành vi của các bị cáo được xác định như sau: Do có mâu thuẫn trước đó, khoảng 13 giờ ngày 03/8/2024, khi đang nhậu trên tàu cá mang số hiệu “KG.61788.xx”, Phạm Xuân T phát hiện tàu cá mang số hiệu “KG.95970.xx” của ông Võ Hữu Q đang neo đậu tại vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) nên điều khiển cho tàu cập mạn đi qua tàu ông Q giải quyết mâu thuẫn. Tại đây Phạm Xuân T, Danh M và Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm: T dùng dũ ba khúc bằng kim loại vụt vào vùng bắp vai phải của Q, M dùng xẻng (leng xúc đá) vụt vào bắp tay trái của Q, H dùng dao bầu chém trúng vào tay, bàn tay và dùng dao Thái Lan gây ra vết thương ở cằm của ông Q gây thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể qua giám định là 13%. Sau khi gây án, H bỏ đi khỏi địa phương, không rõ ở đâu.
Theo Kết luận giám định pháp y, bị hại Q bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 13%. Thương tích này là hậu quả trực tiếp của hành vi tấn công bằng dao, dũ, xẻng của các bị cáo và đồng phạm. Mặc dù thương tích chủ yếu do H gây ra nhưng vì T và M cùng cố ý tham gia đánh bị hại nên cả hai phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ hậu quả.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 20/CT- VKSKV13 ngày 22/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình tố tụng, bị hại Q cho rằng ngoài các bị cáo bị truy tố, xét xử thì còn bị Nguyễn Văn L cầm dao bầu chém vào tay phải và gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với thương tích ở bàn tay phải hiện tại là 07% nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng đã không xử lý đối với L là bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử xác định: Lời khai của T, M, L và người làm chứng là ông Võ Phi C đều xác định L không bước qua bên ghe của ông Q trong suốt quá trình T, M, H đánh ông Q nên không có việc L tham gia chém ông Q. Lời khai của những người làm chứng khác là Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn S, Lê Minh N, Lê Đình H đều khai không chứng kiến sự việc đánh nhau. Như vậy, ngoài lời khai của bị hại, không có tài liệu, chứng cứ nào khác trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa chứng minh ông L cùng thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi không có chứng cứ chắc chắn để buộc tội thì phải xác định người đó không có tội. Vì vậy, việc Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn L đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” trong vụ án này là phù hợp.
Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ, hành vi mà các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về đồng phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra do mâu thuẫn bộc phát tức thời, không có sự bàn bạc, chuẩn bị từ trước nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. Trong đó, T là người khởi xướng, mang theo hung khí và trực tiếp dùng dũ đánh bị hại Q, tạo tình huống dẫn đến việc H và M cùng lao vào đánh Q. Minh tuy không có mâu thuẫn từ trước nhưng đã tự nguyện dùng xẻng đánh bị hại khi thấy T tấn công, thể hiện sự cố ý cùng thực hiện tội phạm. Do đó, T giữ vai trò chính, M giữ vai trò đồng phạm với mức độ thấp hơn.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng các bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối là cải tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Luật sư H bào chữa cho bị cáo T, Luật sư Bảo là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Q đã đưa ra: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã nêu tại phần tranh luận về việc không áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các luật sư đã nêu ra là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho các bị cáo theo ý kiến của các luật sư.
Các vấn đề khác:
Đối với hành vi của Nguyễn Văn H và đối tượng có tên Khánh cùng các đối tượng không rõ nhân thân lai lịch khác:
Bị cáo H là người trực tiếp cầm dao bầu chém liên tiếp dẫn đến thương tích 13% cho bị hại Q và đã bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với H.
Đối tượng K: Do chưa làm việc được với đối tượng K nên ngày 05/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định tách vụ án hình sự số H2096/QĐ–CSHS để tách hành vi Cố ý gây thương tích của Nguyễn Văn H (sinh năm 1975; nơi thường trú: Xóm 4, xã V, tỉnh N), K (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) và các đối tượng khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) để xác minh, điều tra về tội Cố ý gây thương tích. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự của đối tượng H, K và các đối tượng chưa rõ nhân thân lai lịch trong phạm vi vụ án này. Do đó yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung của luật sư Bảo là không có căn cứ, không được chấp nhận.
Xử lý vật chứng
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 con dao, loại dao Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại, đã bị gỉ sét, dài 21 cm; 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán dao và lưỡi dao đã gỉ sét do Phạm Xuân T giao nộp và cho rằng là vật chứng mà Nguyễn Văn H đã sử dụng để gây thương tích cho ông Q. Bị hại Q không khiếu nại thắc mắc gì về hung khí và cơ chế hình thành vết thương. Do các vật chứng này hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.
Trách nhiệm dân sự
Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường, không đồng ý nhận tiền bồi thường, hỗ trợ từ các bị cáo, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm
Các bị kết án nên phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Xuân T, Danh M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
1.1. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 2 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/3/2025.
1.2. Xử phạt bị cáo Danh M 2 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/3/2025.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, loại dao Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại, đã bị gỉ sét, dài 21 cm; 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán dao và lưỡi dao đã gỉ sét.
Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao nhận số 29/BB–PTHADS(13) ngày
22/8/2025.
- Án phí: Mỗi bị cáo Phạm Xuân T và Danh M phải nộp 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định tại các Điều 337, 338 Bộ luật Tố tụng Hình sự để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
Luật sư Hình sự – Luật Hùng Bách
Luật Hùng Bách là tổ chức hành nghề Luật sư có kinh nghiệm chuyên sâu về tranh tụng, đặc biệt trong lĩnh vực Hình sự. Chúng tôi có:
- Đội ngũ Luật sư được đào tạo bài bản, có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm làm việc với cơ quan tố tụng;
- Dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, luôn đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu;
- Có thể hỗ trợ khách hàng ở tất cả các giai đoạn của một vụ án hình sự như: Tố cáo, Điều tra, Truy tố, Xét xử, Thi hành án;
- Phí dịch vụ Luật sư được quy định rõ ràng, phù hợp. Được quy định rõ trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc phiếu yêu cầu tư vấn.
- Hệ thống văn phòng, chi nhánh và đội ngũ Luật sư Cộng sự có thể hỗ trợ tại 34 tỉnh/thành trên cả nước.
Liên hệ Luật sư hình sự
Luật Hùng Bách là tổ chức hành nghề Luật sư có kinh nghiệm xử lý chuyên sâu trong lĩnh vực hình sự. Chúng tôi có đội ngũ Luật sư hình sự giỏi sẵn sàng tham gia bảo vệ cho bạn trong tất cả các giai đoạn của vụ án: Trình báo/ tố giác tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử.
Nếu bạn có nhu cầu tư vấn pháp luật hình sự hoặc cần luật sư tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hãy liên hệ tới Luật sư hình sự – Luật Hùng Bách theo một trong các phương thức sau:
- Email: Luathungbach.hcm@gmail.com
- Điện thoại: 0973.444.828 (Zalo)
- Fanpage: : https://www.facebook.com/Lhb.hcm
Trân trọng!
